"Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly..."

(Marco 10:9)

29 tháng 10, 2008

Bóng Trăng Bên Thềm 3


PHẦN 3: ĐẠI TANG

Ngoại lên chơi 3 ngày, thấy cô Hai không có gì lạ, nên khăng khăng đòi về quê, con cháu năn nỉ thế nào cũng không được.
- Tụi bây cho tao về, tao nhớ nhà quá rồi.
- Má chơi thêm vài ngày, về chi gấp.
- Thôi. Bàn thờ dưới quê lạnh tanh lạnh ngắt, tao đi không ai hương khói. Tao sống ở đâu quen đó. Bây có lòng tao cũng hiểu. Nhưng nhà cao cửa rộng, tao leo lên leo xuống mệt quá xá.
- Dạ. Tụi con cũng không dám cãi. Thôi má ở chơi với mấy đứa cháu thêm ngày nay, mai anh Bảy đánh xe đưa má về sớm.
- Chèn ơi, tao tưởng chiều nay tao được về.
Ngoại về được nữa tháng, ông Bảy rước hai cụ thân sinh của ông ở dưới Long Hồ lên để phụng dưỡng. Ông bà nội của cô Hai Oanh tuổi đã ngoài bảy mươi, nhưng nhìn còn khỏe mạnh, phốp pháp. Dạo này bà nội hơi yếu, nên ông Bảy muốn tự tay bưng cơm rót nước hầu hạ cha mẹ tuổi về chiều. Thời gian thì đâu đợi ai, cái Hiếu Để của ông Bảy chưa kịp ghi nhận, cơm hầu nước hạ chưa tròn năm, bà nhắm mắt xuôi tay. Cô Hai thương đều hai bên nội ngoại, huống chi sống với nội gần cả năm nay, tình cảm quyến luyến sâu đậm. Ngày bà nhắm mắt, cô khóc lóc vật vã bên giường, xỉu lên xỉu xuống mấy lần. Đám người làm thay nhau xốc nách cô dậy, đỡ lên lầu nằm nghỉ.
Ông Bảy dân làm ăn có tiếng ở thị xã này, thêm phần ông cụ thân sinh xưa kia cũng có chút chức sắc, nên người kéo đến phúng điếu đông nườm nượp, chen kín nhà không còn chỗ trống. Nhang khói mịt trời, kèn trống ầm ĩ. Kèn Tây, kèn Ta thi nhau ò e rộn ràng, con nít bu đông nghẹt. Ngoài cô Hai, cô Ba vừa đủ lớn để hiểu sự mất mát, thì cô Tư, cậu Năm và cậu Út còn nhỏ dại, đầu chít khăn trắng quì bên xác bà nội mà tưởng người lớn đang chơi nhà chòi. Cặp mắt tròn xoe, ngơ ngác của ba cô cậu, cộng thêm tiếng khóc nức nở, thê lương, vật vã của cô Hai khiến mấy người đến thắp nhang đều không cầm được nước mắt.
Phải nói, đám ma của bà bự nhất thị xã. Đội kèn ò e không nghỉ suốt ngày lẫn đêm, ngoại trừ lúc thầy tu làm lễ. Con cháu khắp nơi tụ về, chít khăn tang trắng xóa tràn cả ra sân. Người chép miệng xót thương không ít, người tặc lưỡi ganh tị cái giàu có của hãng rượu Thái Hòa cũng rất nhiều. Ông thầy tu lật sách Tàu coi ngày giờ mất của cụ bà, rồi bấm đốt tay lầm bầm tính toán. Xong, ông ngoắc ông Bảy lại gần bàn chuyện chôn cất.
- Chú Bảy, cụ mất ngày xấu lắm. Chú bình tĩnh, theo cái sách này nó nói, rồi dựa trên ngày giờ nhắm mắt của cụ, nhằm ngay cung Tam Nương.
- Tam Nương là sao thầy?
- Nghĩa là... cụ nằm xuống rồi, còn phải kéo theo hai người trong gia đình nữa. - ông thầy tu thở dài.
- Mèn ơi... ý... ý thầy... ý thầy là... - hai quai hàm ông Bảy cứng đơ, mắt trợn tròn. Cái tin dữ như sét đánh ngang tai.
- Thì... thần Trùng bước vào nhà rồi chú Bảy ơi. Cụ mất ngày giờ xấu quá, tui bấm tay hoài mà không tính ra được cái giờ hạ huyệt đây nè, giờ nào cũng không được hết ráo, khổ quá trời quá đất hà!
- Thầy... giờ... giờ sao thầy?
- Nói thiệt với chú, tui làm cái nghiệp thầy cúng, thầy tụng này gần mười năm rồi, mà lần đầu tiên tui thấy cái giờ giấc nó xấu quá xá. Bóp đầu bóp trán mà tui không tính được cái giờ khâm liệm cụ, nói sao tới hạ huyệt giờ chú Bảy?
- Thầy ráng giúp dùm gia đình tui, bao nhiêu tui cũng xin đền ơn thầy.
- Tui giúp là giúp làm phúc, chứ tiền bạc gì ở đây.
Cái đám tang của cụ bà kéo dài lê thê. Tiền âm phủ cháy phừng phừng, mà tiền của người sống cũng tuôn nhiều không kể xiết. Tiền rượu thịt đãi người đến viếng, tiền thuê dàn kèn Tây, tiền nhang khói... ôi là đủ thứ tiền! Nói thì nói cho trót, cái tốn tiền nhất là tiền trầm hương và nước đá. Thôi thì, "nghĩa tử là nghĩa tận", với lại, không có giờ tốt để khâm liệm, nên ông Bảy tốn bộn bạc tính lên hàng trăm để mua nước đá bỏ bao tấn xung quanh giường chỗ xác cụ bà, rồi trầm hương thượng hạng cứ đốt không ngơi tay. Mảnh này vừa tàn lập tức có người lại thay mảnh khác. Để đâu gần tròn tuần, mới có được giờ đưa cụ vào tấm áo quan.
Ngày đưa cụ về nơi an nghỉ cuối cùng, dân thị xã được phen hoa mắt vì người. Người đâu mà hàng hàng lớp lớp. Ông Bảy cầm tấm hình đi trước, đoàn người chầm chậm cất bước tiến về phía nghĩa trang, từ nhà ông tới nghĩa trang đi bộ dễ chừng bốn chục phút. Giấy tiền vàng bạc rải trắng hai bên vệ đường. Người đi đưa nhiều không kể xiết, dân chúng đi coi ngày hôm đó chỉ kịp nhớ là khi ông Bảy vào tới huyệt rồi, mà hàng người cuối cùng chỉ mới cách nhà chừng 100 mét. Cả thị xã được dịp nhốn nháo bàn tán suốt mấy ngày. Lúc hạ huyệt, quan tài từ từ đưa xuống hố sâu, bốn người làm thay nhau giữ tay chân của cô Hai, cô cứ quằn quại chực lao xuống ôm lấy áo quan, miệng không ngớt gọi: "Nội ơi!"
Ông thầy ổng dặn là chôn cất xong, đúng 5 năm sau mới được làm nhà mồ, cãi lời thì họa lớn khôn lường.
Đám tang qua đi, không khí trong nhà buồn ảm đạm. Cô Hai Oanh không thiết ăn ngủ, nằm bẹp trên giường, nước mắt hai hàng. Nhan sắc cô ngày càng tiều tụy. Cô Hai bỏ ăn chừng bốn ngày, thần sắc xanh xao, hơi thở yếu ớt, ông bà Bảy hoảng hồn vía vội sai người đi mua một cân tổ yến về chưng đường phèn, cạy họng đút cho cô uống. Bà Bảy bơ phờ ngồi bên giường con gái, chép miệng thở dài. Một tiếng đồng hồ, bà lại kêu người làm bưng chén tổ yến lên một lần, bà kiên nhẫn mớm cho cô Hai từng muỗng nhỏ. Nhà bếp đỏ lửa cả ngày dài, để có cần gì lập tức mang lên ngay cho cô Hai ăn.
Cụ ông yếu hẳn từ ngày cụ bà mất đi. Dân gian có câu: "Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi", huống hồ gì tình sâu nghĩa nặng mấy chục năm. Nay bà đi rồi, ông lặng lẽ ra vào như chiếc bóng. Sáng sáng ông cẩn thận quét dọn, thay nước bàn thờ của bà, rồi run run đưa đôi tay nhăn nheo thắp ba nén nhang. Dòng nước mắt mờ đục chảy dọc theo nếp nhăn trên gương mặt. Dọn dẹp sạch sẽ, thay nước gọn gàng, ông bắt cái ghế xếp nằm kế bên bàn thờ, mắt đăm đăm nhìn di ảnh. Trưa, ông không lên bàn ăn cùng con cháu, mà vào bếp tự tay xới chén cơm, gắp miếng đồ ăn, cắm chiếc đũa vào, đặt lên bàn thờ đốt mấy cây nhang. Ông sai kê cái bàn nhỏ kế bên, để cơm lưng chén, dĩa nhỏ đồ ăn với bình trà nóng, ông ngồi ăn chậm rãi, thỉnh thoảng ngước nhìn hình cụ bà, như ngày nào bà còn kế bên dịu dàng rót cho ông ly trà tráng miệng.
Ông Bảy lo lắm. Nhìn tình hình cụ ông, nhắm không lâu dài. Ông đánh dây thép lên Sài Gòn, đặt mấy cân sâm Cao Ly và lộc nhung, để ngày ngày xắt vài lát mỏng cho cụ tẩm bổ.
Về phần cô Hai, nhờ công bà Bảy ngày đêm chăm bón, dần dần phục hồi sức khỏe. Gương mặt từ từ hồng hào, lấy lại nhan sắc như ngày xưa. Tuy nhiên, nỗi nhớ thương bà vẫn khôn nguôi trong dạ. Dạo này, bà Bảy cho người canh cô Hai kĩ lắm, hễ xểnh ra là cô chạy vào nghĩa trang thăm mộ bà nội, ngồi đó khóc thương hàng giờ. Ngày đầu cả nhà không biết, nhốn nháo đi tìm. Tới chừng có người nói chạy thử trỏng coi có gặp không, thì y như rằng, cô Hai đang ngồi bệt bên ngôi mộ mới đắp, nước mắt lả chả tuôn rơi. Mới có lần đầu, ai cũng nghĩ cô Hai đi một lần vì nhớ bà quá, ai ngờ đâu mấy hôm sau, cô Hai trốn đi tiếp, cả nhà thêm phen quính quáng. Mà ác nỗi, cô Hai đi toàn giờ linh. Cái giờ mà người ta nói mặt trời đúng ngọ, 12 giờ trưa nắng chang chang mà cổ ra nghĩa địa cổ ngồi, coi ác thần ôn chưa? Giờ đó người ta đóng cửa đi nghỉ trưa, mà hiếm ai dám ra đường, sợ trúng nắng, với lại họ nói giờ đó âm binh cô hồn lang thang nhiều lắm, lạng quạng bị nhập như chơi. Chỉ có cô Hai Oanh của nhà Thái Hòa lại chọn giờ độc địa đó mà đi khóc than cụ bà quá cố.
Ông bà Bảy canh cô Hai kĩ còn hơn canh hũ vàng. Sau cái lần trốn đi đó, cô Hai Oanh bị nhốt tiệt trong nhà, nhưng bỗng dưng có biểu hiện lạ lạ. Trước giờ cô Hai nào thích ăn diện se sua, vậy mà giờ cô đòi bà Bảy mua son mua phấn, mà phải son đỏ chói mới chịu à nghen. Nào giờ cô Hai chỉ thích bà ba phi bóng màu trắng hoặc mỡ gà, nay cô đòi rước thợ về nhà, mua liền mấy xấp vải màu đỏ, màu vàng, màu cam. Ông bà Bảy nghĩ cô tới tuổi chưng diện nên cũng chìu. Chèn ơi, son phấn mua rồi, quần áo may rồi, kể từ đó cứ mười hai giờ trưa, không cần biết đang làm gì, cô Hai cũng xăm xăm lên lầu, thay bộ đồ đỏ, mặc quần vàng chói lọi. Ngồi trước kiếng tỉ mỉ kẻ mắt thoa son, xong rồi xuống nhà ngồi cười cười nói nói. Đợt này người ta đặt rượu nhiều, ông bà Bảy như con thoi ra vào quán xuyến không có thời gian để ý con cái. Tới bữa kia, mới ăn cơm xong, bà vú em của cô Hai khẽ khàng lại thưa với bà Bảy:
- Thưa bà, dạo này cô Hai...
- Cô Hai sao? Nó bỏ ăn nữa à?
- Dạ. Cô Hai ăn nhiều, mà... mà... giành ăn với mấy cô cậu nhỏ nữa mới...
- Gì? Con này nó đổi tính sao? Tự dưng ăn hiếp mấy đứa kia?
- Dạ. Hôm trước cậu Năm đang ngồi ăn nho, tự dưng cô Hai lại giật hết nguyên rổ rồi vừa ăn vừa cười khanh khách. Ghê lắm bà ơi!
- Nói năng cẩn thận. Con tui con nhà gia giáo đàng hoàng, chị nói vậy người ta nghe rồi nói nó bịnh hoạn, tội nó.
- Bà, bà không tin thì đợi chút, dạo này đúng giữa trưa, cô Hai biểu hiện kì lắm. Còn chừng mười lăm phút nữa, bà đợi coi thử đi. Mấy rày bà với ông vắng nhà miết, ai cũng sợ mà không dám thưa.
- Để coi.
Mười hai giờ trưa.
Cô Hai đang ngồi lắc lư trên võng, bỗng dưng đứng bật dậy, hùng hổ đi thay đồ, trang điểm. Bà Bảy núp sau cái tủ che giữa nhà trước với phía sau, chăm chú theo dõi. Lạ, đúng là khác lạ. Con bà đời nào như thế. Trước giờ nó ăn mặc nho nhã, trang điểm nhẹ nhàng. Giờ thì nhìn chẳng khác ông đồng bà bóng. Còn ngồi đó làm xàm như mắc đàng dưới. Cậu Năm ở đâu bỗng dưng đi tới, trên tay đang cầm trái táo, mặt mày hí hửng định kiếm má để khoe. Mới đi ngang chỗ cô Hai, cô Hai đưa tay giật mất. Cậu khóc tức tưởi, đưa tay xin lại, cô Hai trợn tròn mắt nhìn thấy toàn tròng trắng, liếc cậu Năm:
- ĐI! Ai cho mày ăn. Đi, của tao nghe chưa? Tao đói, tao ăn. Nghe chưa, đi! - rồi bật cười lanh lảnh.
Bà Bảy chứng kiến từ đầu tới đuôi, da gà nổi toàn thân, thiếu điều nghẹt thở.
Qua ngọ hơn nữa tiếng, cả người cô Hai lả dần, gục mặt xuống bàn. Bà vú em vội vội vàng vàng đỡ cô lên phòng, nhúng khăn lau mặt rồi thay bộ đồ. Đám người làm trong nhà mặt mày xám ngoét, lúp ló sau bếp hóng chuyện nãy giờ. Bà Bảy quay qua trừng mắt, tụi nó nhanh chân lẻn mất.
Sáng hôm sau, bà Bảy kêu cô Hai dậy sớm để đi chợ với bà. Bà mua bông huệ trắng, trái cây, lễ lộc đàng hoàng rồi ngoắc xe lôi đi xuống chùa ở cầu Thiền Đức. Ngôi chùa này độc vị sư trù trì đã lớn tuổi, nổi tiếng cả thị xã vì đạo hạnh thâm sâu. Chùa nhỏ, vẻ cổ kính. Những cây cột to, đen bóng tạo vẻ uy nghi. Bức tượng Phật Tổ mạ vàng thật to đặt ngay hướng nhìn ra cửa chính. Trên thân tượng lem nhem ám khói và ánh rõ màu thời gian. Bà Bảy kêu cô Hai xuống bếp sắp trái cây với chưng bông đem lên bàn thờ, bà ngồi thưa chuyện với sư trụ trì ở chánh điện.
Cô Hai sắp hoa quả lên bàn thờ xong xuôi mới bước tới lấy nhang định thắp lên bàn Phật, bỗng dưng cả người sợ hãi, run bần bật. Cô cố gắng lê từng bước xuống ngồi kế, nắm tay bà Bảy. Nhìn con gái mặt mày xanh lè, bà Bảy hoảng hốt tưởng cô Hai trúng gió:
- Con sao vậy Hai?
- Má... con sợ quá má. Trên kia có cái gì, con sợ quá má ơi.
- Trên kia là trên đâu? Cái gì là cái gì? Bây nói cho rõ coi.
- Có... có...
Vị sư già nhíu mày, xong đứng dậy, nói:
- Cô và cháu lên đây theo tôi.
Trước Phật Tổ, sư trụ trì thắp nến hai bên và ba nén nhang to, gõ chuông ba tiếng, bắt ấn niệm kinh. Cô Hai lúc này lộ rõ nét sợ hãi, cái sợ hãi giống như một đứa trẻ bị tía má xách roi rượt vào đường cùng, đang run rẩy chờ những lằn roi giáng xuống. Bất chợt, vị sư trừng mắt nhìn cô, nghiêm giọng:
- Quì xuống lễ Phật.
Cô Hai lắc đầu nguầy nguậy, lạc giọng:
- Sợ... không quì... sợ lắm... không quì đâu.
- Con sao vậy Hai? Đừng làm má sợ nghen con. Nghe lời sư ông, quì xuống lạy Phật đi rồi má dẫn con về.
- Bà... bà ác lắm! Bà ác lắm... bà muốn đuổi tui đi, bà muốn đuổi tui đi phải không. - Giọng cô Hai the thé.
- Quì xuống lạy Phật đi con. Đừng vậy mà.
Sư ông bước đến trước mặt cô Hai, một tay bắt ấn, một tay đặt lên đỉnh đầu, nhìn thẳng vào mắt cô, giọng nghiêm khắc:
- Quì xuống lễ Phật.
Bàn tay sư ông như thể cục tạ ngàn cân, cô Hai quị mạnh xuống sàn đánh bốp.
- Chấp tay lại.
- Không... không... không... ông tránh ra... tránh ra... - hai bàn tay của cô Hai đan vào nhau, vặn vẹo, uốn éo như thể cô đang bị ép làm điều gì rất ghê gớm - không... không lạy... sợ... sợ lắm - cô Hai bật khóc nức nở như đứa trẻ bị đòn roi.
Sư ông bước đến bàn thờ, cầm chung nước nhỏ đã được ngâm sẵn đóa hoa vạn thọ. Sư vừa niệm kinh vừa cầm nhánh bông rải nước lên đầu cô Hai, rồi tay phải bắt ấn, tay trái đặt ngón trỏ lên đỉnh đầu cô, miệng lầm rầm. Dứt hồi kinh, sư cất tiếng:
- Âm dương không thể chung đường. Đừng phá hại người hiền lương. Sao không về đây nương nhờ cửa Phật, mà lại đeo bám làm khổ người trần? Quay đầu là bờ, qui y là ngõ sáng. Có nghe rõ không?
Cô Hai đang uốn éo, bỗng thở dài đánh thượt như trút gánh nặng ngàn cân trên ngực, lưng áo ướt đẫm mồ hôi.
Bà Bảy vội bước tới đỡ con gái tựa vào lòng, rồi chấp hai tay của cô Hai cho cô lễ Phật. Trước khi về, sư ông trao cho cô Hai mấy quyển kinh, dặn về nhà phải siêng năng tụng niệm. Cô Hai trở lại thành cô Hai Oanh như thường khi, lễ phép chào sư trụ trì ra về. Hai mẹ con ngồi xe lôi thong thả về nhà, trên tay cô Hai vẫn cầm khư khư những quyển kinh văn sư ông trao.
Đến nhà, cô Hai vừa bước qua bậc cửa, bà vú em chưa kịp rót ly nước mang lại, cô Hai đã đổi tướng đi. Hai chân khuỳnh khuỳnh, mặt mày nhăn nhó, hai tay đan lại cứng ngắt, thõng dài xuống đỡ mấy quyển kinh trên tay, khệ nệ như thể khiêng tạ sắt nặng mấy trăm kí-lô-gram. Nặng nề đi hơn mười bước vào tới bàn khách, cô Hai quăng chồng sách xuống bàn cái bốp, đưa tay quệt mồ hôi, chắc lưỡi:
- Thiệt tình hà, cái quỉ này nặng muốn chết mà bắt người ta khiêng vậy đó.
Trưa hôm đó trở về sau, cô Hai dứt hẳn việc thay đồ rồi thoa son đánh phấn, nhưng tính tình thì còn chút nắng chút mưa. Bà Bảy hễ nhác thấy cô Hai đổi sắc lập tức lấy quyển kinh ngồi kế bên tụng niệm, bắt cô Hai niệm theo. Dần dà cô Hai khỏe hẳn, trở lại cô Hai Oanh yêu kiều của thị xã ngày nào. Đám công tử lại được dịp chiều chiều rập rờn như bướm vườn hoa trước nhà ông Bảy. Cô Hai hồi phục, sắc đẹp dường như tỏa sáng bội phần, ông bà Bảy càng thêm cưng chìu hết mực. Gấm vóc lụa là mua cho cô không kể xiết, nét đẹp cô Hai Oanh càng rạng ngời như trăng rằm mười sáu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét