"Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly..."

(Marco 10:9)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Tư. Hiển thị tất cả bài đăng

16 tháng 12, 2009

Chỉ là ghi lại một trưa vô tình


Chị ào qua cửa. Và từ cái buổi trưa nắng đỏ, trong cái xóm nghèo Năm Căn đó, tôi biết đến một bà mẹ khác với hình dung quen thuộc khi nghĩ đến mẹ, những gầy, những hiền lành, những dịu dàng, những đau khổ...

Chị mập ù, ngồi oằn cả một góc ván. Chân mày mỏng. Đứa bé bốn tháng tuổi trên tay gầy và xanh. Chị vừa cho nó bú vừa hút thuốc. Khói thuốc phì ra mũi lúc chị cười, trong cái bảng lảng, cứ như khói cũng tuôn từ mắt chị. Đứa bé điềm nhiên miết vào vú mẹ, dường như nếu chỉ có mùi sữa, mùi mồ hôi, mà thiếu mùi thuốc lá thì nó cũng chẳng nhận ra mẹ. Chắc đã nhận được quá nhiều lời cằn nhằn lẫn ái ngại cho việc phì phèo khói thuốc của mình, chị dụi tắt thuốc, cười khà khà phân bua, ''ghiền hồi nhỏ rồi chế ơi, bỏ không được...''.

Nụ cười hồn nhiên, bầu vú cũng hồn nhiên khoe sự đầy đặn của mình. Áo vén cao không lấp lửng, khách khí. Tôi nhìn hai đứa con lớn nheo nhóc đứng cạnh, tôi nhìn bà mẹ nhỏ tuổi hơn mình, có gì đó xót xa đến mức lời lẽ cứ lạc đi đâu.

Tôi cứ tưởng sẽ gặp nhiều nước mắt, gặp nhiều vật vã, bởi đứa bé kia, núm ruột của chị, khi năm mươi ngày tuổi đã bị ông hàng xóm xâm hại tình dục. Chị kể lại chuyện đó với một vẻ tự nhiên, như một bà mẹ nói về vụ trớ sữa của con mình. Hoặc chị đã phải kể nhiều lần, vắt nước mắt nhiều lần rồi, ngay sau khi bi kịch xảy ra. Buổi sáng gửi con đi chợ mua cá, lúc về thấy nó tím tái, xốc nó thì máu từ miệng trào ra theo cái bao tay người ta đã dùng chẹn cứng cổ họng nó cho khỏi gào khóc. Lúc về thì cơn bão sẽ ở lại mãi mãi trong căn nhà thuê tồi tàn, ọp ẹp của chị.

Nhắc đến kẻ bất nhân, chị chửi thề giòn tan, giọng giòn tan, ông già sáu mươi chín tuổi đó chắc là ma quỷ nhập, chớ con chị mềm như cục bông gòn, vui sướng gì mà nỡ lòng... Chị cũng giống tôi, không tin con người lại làm vậy. Chị đòng đưa đứa bé gái bất hạnh trong tay, nựng nịu nó cưng ơi cưng à rồi nói chơi chơi, ''mấy bà hàng xóm tui chọc, tại con mày đẹp quá, nên có... rể sớm... Thằng rể lớn tuổi hơn ông ngoại vợ''. Tôi muốn cười với chị, thật lòng, nhưng vo hoài cũng không thành.

Tôi bệu bạo hỏi tên ông hàng xóm vô đạo, chị ngơ ngác day qua hỏi chồng, ''tên gì, ông?'', thấy khách tròn mắt ngạc nhiên, chị cười, ''cứ kêu chú bảy chú bảy mà không để ý ổng họ gì...''. Hai bữa trước tòa án gọi chị lên, hỏi, chị có đòi bồi thường gì không, chị chưng hửng, thằng chả nghèo còn hơn tui nữa lấy gì bồi thường. Thôi, khỏi. Chị đốt lại điếu thuốc hút dở khi nãy, bàn tay vung lên lượn một vòng khói, ''có đòi năm chục ngàn chưa chắc có, cùng là dân ở nhà mướn, biết nhau quá...''.

Tôi tắt máy ảnh, tôi đã bật nó với hy vọng được ghi lại những giọt nước mắt lăn trên mặt chị, như tai tôi cũng mong chờ được nghe những lời than thở buồn rầu. Những biểu hiện mà tôi nghĩ, một người mẹ phải như thế như thế. Nhưng tôi không đợi nữa, vì dù không một chút nào tỏ ra đau đớn bi lụy, chị vẫn là một bà mẹ đúng nghĩa, đẹp và gây xao động như tất cả những bà mẹ trên đời.

Suốt buổi nắng, bà mẹ chỉ thắc thỏm chuyện con gái mình xanh xao quá, ''lúc sanh nó được hơn bốn ký lô đó chế, giờ ốm tong vầy...'', rồi mẹ khuỳnh tay ngó lại mình, đượm buồn, ''còn tui thì ú ì. Ai cũng nói tui ăn hết phần của con...''. Nghe như lời tự trách, làm mẹ to khỏe mà cũng không bảo vệ được con mình. Và suốt buổi nắng, bà mẹ không hề tỏ ra lo lắng chuyện trinh tiết, phẩm giá, chuyện con gái mình mai kia sẽ lớn lên với một vết thương...

Tôi không ngạc nhiên, hôm nay là đám giỗ mẹ chị, một bà mẹ nghiện rượu và chết vì ngộ độc rượu. Chị còn thằng em trai suy dinh dưỡng, tuổi mười ba héo quắt như trái mướp khô. Tôi không ngạc nhiên, khi ở cái xóm lao động nghèo này, vét nồi bữa sáng đã lo gạo cho bữa chiều. Những người nghèo và không được học hành như chị cứ bị cuốn trong những bi kịch nối tiếp bi kịch, họ buộc phải học cách đau có hơi khác thường, nhưng cần thiết để giữ sống.

Tôi chỉ thấy lạ chính mình, sao mà mình nhớ chị lâu vậy, nhớ giọng nói giòn tan, điệu bộ vung tay khẳng khái, bầu vú cứ hồn hậu áp vào mặt đứa con mặc đèn flash máy ảnh lóe lên.

Bà mẹ chỉ quan tâm, con mình cần bú, và nó thì quá gầy gò sau một biến cố không ngờ. Cũng có vài chuyện cần thiết nữa, đứa con gái lớn đã tới tuổi vào lớp 1, đứa con trai kế với dị tật trên mắt không biết có chữa được không. Những điều cần cho tâm hồn, lúc bụng no mới nghĩ tới được...

Nguyễn Ngọc Tư

(Thuộc Tản văn YÊU NGƯỜI NGÓNG NÚI - Nhà xuất bản Trẻ)

Một buổi tiễn đưa bình thường


Ông già nhà gần đình Thạnh Phú qua đời, tiếng trống chiều nay báo tin buồn vời vợi trên từng bờ tre, ngọn cỏ. Làng xóm rục rịch kéo lại, làm cuộc tiễn đưa ông. Có người vừa đi vừa cài nút áo, vẫn không hiểu hôm qua ông già còn chống gậy lại cúng đình, bữa nay đã hóa người thiên cổ, sao đời người biến đổi như cái chớp mắt vậy.

Cuộc tiễn kéo dài hai ngày, như một bài ca nhiều biến tấu lung linh. Đoạn buồn thê thiết cũng có vài nốt vui, khi người con gái xếp quần áo tẩn liệm phát hiện ra ba mình có tới hai cái quần... rách đáy. Anh con trai đang mặc áo của ông già sực nhớ cởi áo để... trả, sợ ông già cứ lẽo đẽo vào giấc mơ mà đòi thì phiền. Ông nhắm mắt nằm đó, bụng có nải chuối, miệng ngậm vàng, với bảy hột gạo trắng tinh. Mấy bà già người yêu cũ lại, kêu mở mắt ra đi, nhìn tui nè ông, sao ông đi hỏng nói lời nào vậy (nhưng ông mà nói thì có phải mấy bà té ngửa ra chết giấc không. Mấy bà này tự tin thấy ớn, nhăn nheo teo tóp, còn hấp dẫn gì đến nổi ông phải ngồi dậy nhìn lom lom). Ông già vẫn nằm im (chắc sợ nải chuối... rớt), miệng hơi mỉm cười, như nói, hà hà, cuối cùng cũng chịu khóc tui, bỏ công hồi mấy bà bỏ tui đi lấy chồng tui cũng đau vất đau vả.

Bản nhạc tiễn đưa sau cao trào than khóc khi dậy nắp áo quan, thì trở lại những tiết tấu nhẹ nhàng. Mấy đứa trẻ con chí chóe giành công việc đốt giấy vàng mã cạnh ông nội, ông ngoại chúng. Khói mù mù. Lửa rực lên rồi le lói bập bùng. Ở ngoài sau bếp mấy chị thợ nấu chuẩn bị dọn cháo khuya ăn với củ cải muối trộn giấm đường, tép rang, thịt vịt xào gừng... Mấy bà già chuyền tay nhau cái micro hát những bài kháng chiến cũ, nghe ''mùa thu rồi ngày hăm ba...'' là muốn nhịp... đùi. Rồi một ngoại ngậm ngùi hát ''Mười thương'' theo điệu thơ nói Bạc Liêu, ''má ơi con chửa lấy chồng. Con chờ chiến sĩ thành công trở về...''. Chiến sĩ lần này không về nữa, mấy bà kia kéo chéo khăn đội đầu, chấm nước mắt. Đám thanh niên ngồi nhậu khề khà, vừa ngóng coi cái micro mà rảnh, tụi nó sẽ ca vọng cổ tới sáng. Tụi con gái lặt giá, tỉa bông củ cải... cười lích rích bảo nhau, sao ông thầy chùa đẹp trai quá mà đi tu, uổng.

Người nhà ông già đi qua chỗ ông hay ngồi xếp bằng uống trà, chôn chân đứng nhìn, rớt nước mắt, rồi ai đó réo hỏi, nước mắm để đâu, đường còn hết, chị tất tả quay đi. Có nhiều việc để làm, để đối đãi tròn vẹn. Chị có một khoảng thời gian dài phía trước để thấu tận nỗi mất mát này, khi bà con hàng xóm đã về, và chị đi đâu cũng gặp những khoảng trống không sao lấp đầy được. Nhưng bây giờ chị phải chuẩn bị mâm cơm chay để cúng cha rồi, làm việc thôi.

Ông già sống một đời bình thường, gắn bó với ruộng vườn, làm một cuộc đi bình thường. Sáng không thấy dậy, thì không dậy nữa, vậy thôi. Mấy bà già ngồi nhai trầu nói, ổng đi trước, rồi từ từ mình cũng đi theo, xuống dưới cũng lại gặp, hổng sớm thì muộn. Già trẻ ai cũng tin vào một thế giới khác sau cái chết, nên họ bùi ngùi một chút rồi lại cười, nói những câu chuyện buồn cười, như cuộc đời này vốn buồn cười. Con người, khóc mãi mà được sao?

Gần sáng thì trời mưa nhỏ, đám thanh niên uống say ca hát mệt quá nằm ngáy không hay nước mưa xuyên qua cái rạp lợp bằng lá dừa làm ướt áo. Khói hương gian nhà trước mòn mỏi vơi đi, khói bếp ở nhà sau vẫn đầy ngun ngút. Mấy chị gần như không ngủ, chuẩn bị bữa ăn cuối cùng của cuộc tiễn đưa.

Nắng lên, mấy nhóc nôn nao. Đội đạo tỳ đang tập luyện ngoài liếp vườn. Người cầm đuốc với người vẽ mặt quỷ là hai chú cháu, chú nói, có đá tao thì đá nhẹ nhẹ nghen mậy, tao già rồi. Nhưng lúc làm nghi lễ đuổi quỷ trước quan tài, ông chú ngậm dầu phun ra lửa khè khè, thằng cháu - quỷ bị đánh te tua, cái mặt vằn vện lọ nồi của anh nhăn nhó, làm tụi con nít mắc cười muốn chết. Sau bữa nay, chắc cháu giận chú cả tuần. Con nít nói với nhau, màn đuổi quỷ của đội đạo tỳ này hấp dẫn hơn mấy đám tang trước, đánh y như trong phim Hồng Kông vậy.

Nhạc lại trỗi khúc thê lương, tiếng trống nhỏ từng giọt đằng trước, dắt linh hồn theo loanh quanh mấy liếp dừa liếp chuối, mấy con mương săm sắp nước. Đoàn người vịn mùi khói nhang lũ lượt lội bộ đằng sau, chân bước xốn xang trên bờ cỏ.

Người đi đi thật rồi.

Nhưng bài hát vẫn còn vang, khách lục tục ngồi lại, ăn với gia đình thêm bữa cơm. Họ í ới hỏi nhau bao giờ thì về, về đường nào, xuồng hay xe, tiện đường quá giang. Đi qua khúc quanh trên đường, bỗng ai đó nhắc, hôm trước, ông già còn chống gậy đứng chỗ này, hỏi, ''mạnh giỏi, con Ba?''. Cuộc tiễn đưa như chưa từng có. Về nhà có đứa trẻ khoe thiệt thà với bạn, ''đám ma vui dã man...''.

Bây giờ, đứa trẻ đó sắp thành một bà già, nữa đời chứng kiến nhiều cuộc tiễn đưa xênh xang cờ đèn kèn trống, luôn nhớ những đám tang ở xóm mình, quê mình ngày cũ. Đôi khi đứng lại bên đường nhìn một buổi tiễn, ngó xe ô tô nối đuôi diễu hành dằng dặc qua các dãy phố để... quay phim, dàn phèng la đi trước, đội kèn trống theo sau, tấu ''Những đồi hoa sim'', ''Đồi thông hai mộ'' (?)... Đoàn xe đi đến đâu, thành phố bị khuấy động đến đó. Những đứa trẻ hoàn toàn không có cái cảm giác sâu lắng, bùi ngùi và ấm áp giống như cuộc tiễn đưa trong ký ức của mình.

Nên nhớ không tan được...

Nguyễn Ngọc Tư

(Thuộc Tản văn YÊU NGƯỜI NGÓNG NÚI - Nhà xuất bản Trẻ)

Mua vài đồng nhớ

Có đôi khi mất nữa giờ để đi xuyên qua cái thềm chợ chỉ rộng chừng ba mét, tôi tự hỏi, cái gì đã níu bước chân mình? Mớ rổ nan xếp hàng, mấy chú gà con mới thay áo lá bồn chồn vỗ đôi cánh trụi, hay vì cảnh đôi vợ chồng tóc bạc bẻ gói xôi thành hai nữa để chia nhau. Hay tất cả những hình ảnh đó đã khiến tôi nữa bước nữa dừng?!.

Một tháng vài ba lần, đôi vợ chồng bán rổ lại tới cái chợ nhỏ bên đường. Ông mắt sâu, cao lòng khòng, tay chân xương xẩu nhô ra bén ngót, lúc cười thấy còn lơ phơ hai cái răng. Bà già nhỏ nhắn, mặt tròn mắt tròn, môi đỏ, miệng nhai trầu móm xọm. Những cái rổ úp thành hàng như những dấu ba chấm lẻ loi giữa cái trang giấy chợ đời nhốn nháo những dấu câu gấp rãi. Đôi lúc, có cái rổ ngửa ra, nụm nịu trong đó là mấy trái bình bát, lêkima chín vàng, vài chùm dâu... cuống còn dính dấp nhựa, như thể khi ông gánh mớ rổ trên vai, bà đi đằng sau tiện tay thấy gì hái nấy, cứ vậy mang ra chợ.

Nhìn những món hàng con con, tôi hình dung được mảnh vườn xa xôi đó. Những bụi tre bụi trúc, bình bát mọc theo mé dìa, vài cây vú sữa, vài cây lekima, vài cây dâu... Và chúng đều đã già, hay đất già mà kiệt trái, nhỏ teo. Có bầy gà, bầy vịt túc tắc chạy chơi giữa những rau cỏ dại. Rau đắng đất, rau má mọc cạnh mấy dây bí. Đôi vợ chồng già mang mảnh vườn bày ra nơi thềm chợ. Người đã từng ở quê đi qua ngây ngô nhớ, người chẳng dan díu gì cũng đứng lại ngậm ngùi.Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy rồi, mà họ còn vất vả mưu sinh, đôi bàn tay chai khô chi chít nhiều vết cắt. Cái rổ nan giá chỉ vài ngàn, thương quá mua về không biết dùng để làm gì, để đâu cho khỏi lạc lõng giữa những vật dụng hiện đại và hào nhoáng khác.

Ông bà già cũng vậy, ngồi ở chợ mà chỏng chơ, chực rơi khỏi chợ. Bởi hai mái đầu bạc trắng, bởi bộ đồ cũ kỹ quăn queo, bởi những món hàng quê mùa lỗi thời mà họ mang tới từ cái rạch Ổ Ó xa xôi... Lạ lùng, có vẻ hai người không thấy buồn vì điều đó. Ngồi bên nhau, ông bà tươi rói nói cười, có khi ngặt nghẽo như trẻ con lên bảy lên mười. Mặt trời vói qua mái hiên quán hủ tíu mì, ông già xích ra sau lưng bà già, che nắng. Củ khoai luộc luôn được bẻ làm hai nữa, rồi lại bẻ hai củ kế tiếp. Khách ghé qua, bà nói rổ này xài bền vô phương. Ông nói bả đương rổ tiếng tăm từ hồi con gái. Bà lại nói ổng nứt vành khéo, chắc chắn lắm. Ông lại nói, bả vót nan đều trân, đó, thím coi...

Nồng ấm và âu yếm. Bà ngồi bên phải thì ông già sẽ hơi nghiêng vai về bên phải. Hôm bà lụi hụi bên trái vai ông lệch hẳn về trái. Cái kiểu ngồi làm tôi vừa mắc cười vừa cảm động. Không cố tình, nhưng lúc nào hai ông bà cũng làm tôi đi chậm, bởi cái ngón trỏ trên tay ông bà còn nguyên cuộn vải cũ sờn dùng để vót nan, như thể sớm nay họ đang ngồi đan rổ thì nghe tiếng tàu chạy, vậy là họ xỏ dép mau mau đùm túm đi; bởi mấy con vịt con lông vàng như rạ đứng trong rổ lao nhao rỉa gạo nát trên đầu nhau; bởi mớ trái nhãn lồng chín cây này đã lâu ngày tôi mới nhìn thấy lại.

Và bởi hai ông bà nói năng duyên dáng, dùng nhiều chữ lạ. Ông nói, ngó người ta đi ăn xin lang thang lưới thưới thấy thương. Ông kể vụ mất trộm gà, nhà có con chó chậm chạp như bà già đi âm phủ, con chó này làm kiểng lâu quá rồi chắc ông phải làm gỏi thôi. Bà già nói bữa nay đi lúc trời còn lu, sương nhiểu hột ướt sượt cái đầu. Mấy nải chuối chín mùi rụng rún này ngọt mật phải biết. Bữa nay im trời dữ. Dì Hai buôn bán dễ ợt mà con, đâu có ke re cắc rắc từng đồng từng cắc. Hồi trẻ tui với ổng thương nhau bén chết, giờ già rồi, nên mần cũng thủng thẳng khẽ khọt thôi. Nhà mót dữ lắm cũng chỉ có hai mạng già, ăn láp váp ba hột cơm cho rồi bữa...

Ngồi nghe ông bà già nói chuyện, suốt đường về nhà tôi cứ thấp thỏm sợ quên luôn thì tiếc. Lúc ghi lại vào sổ tay thấy từ ngữ bỗng trơ, thiếu mất vẻ đẹp, sự sống động như khi chúng phát ra từ đôi môi héo móm, từ cái miệng phập phều chỉ có hai cái răng nằm xiêu lạc, và ánh mắt đã dần mờ đục nhưng vẫn hồn hậu hấp háy, hấp háy...

Những ngày đôi vợ chồng già không tới, qua thềm chợ tôi vẫn chậm, vì nhớ. Biền biệt một quãng ngày ngày, một sáng chỉ mình bà già quay lại, với gánh rổ nan toòng teng trên vai. Cái chợ chật chội nhưng rộng lòng nhón cho bà một khoảng trống nhỏ nhoi. Bà già chơ vơ ngồi đó, nắng rọi cái bóng lẻ thiệt buồn. Khách hỏi mua cái rổ, bà ngơ ngẩn, ờ ờ. Hỏi ông già đâu không thấy, bà ngơ ngẩn ờ ờ, bỗng dưng mắt kèm nhèm nước. Ngồi chợ không tha thiết bán mua, bà tới đây để nhớ người bạn đời đã về với đất rồi.

Nhưng sao khi đứng nhìn những buổi chợ tan ban trưa, khói nắng vẫn thường hiện lên trước mắt tôi một ảo ảnh, có ông già lỏng khỏng gánh mớ rổ ế đi trên đường, bà già nhỏ nhắn lúp xúp bên cạnh tay cầm cái nón lá quạt mồ hôi cho chồng, như tát cạn vũng nắng đi.
Nguyễn Ngọc Tư
(Thuộc Tản Văn YÊU NGƯỜI NGÓNG NÚI - Nhà Xuất Bản Trẻ)