Nói về cô Hai Oanh, người gì đâu đã đẹp người lại còn đẹp luôn nết. Tuy là con nhà giàu, nhưng cô đối xử với kẻ ăn người ở không chút khinh khi, xem họ như người thân trong nhà, nên ai ai cũng quí. Cô còn giỏi nữ công gia chánh, đảm đương phần nấu những món mà ông bà Bảy thích ăn. Ông Bảy tuy ở quê nhưng đầu óc thông thoáng, từ lâu đã mời thầy dạy tiếng Tây tiếng U cho xấp nhỏ. Còn rước luôn thầy dạy piano, ghita và cả vĩ cầm. Tiền bạc tốn không kể xiết, nhưng chiều chiều ông bắt chéo chân, chiêu ngụm trà, gật gù theo tiếng đàn của đám nhỏ, có vẻ phởn chí và tự hào. Cô Hai có bổn phận hàng cuối tuần là vào bếp, mần cho ông cái bánh gan gà (bánh plan), rồi dạo đàn piano hát mấy bài tình ca tiếng Pháp cho ông nghe. Lần nào nghe xong ông cũng vỗ đùi đánh đét:
- Con tui là số một à nghen! Hổng có cái radô nào hát hay hơn cô Hai nhà này hết đó.
Tiếng lành đồn xa, kẻ mai người mối không ngơi tay. Năm nay cô Hai tròn trịa đôi mươi, ở quê tuổi này là tuổi yên bề gia thất, kiếm cháu chắt cho ông bà ẵm bồng. Ông Bảy làm ăn nhiều, tiếp xúc với cái hiện đại, nên ông thong thả cái việc gã chồng cho cô Hai Oanh. Con gái ông còn đó, tuổi xuân phơi phới, chạy đâu mà vội. Ông còn tính đường đâu cho cô Hai qua Pháp du học thời gian. Đi cho mở mang đầu óc, mở mặt mở mày với thiên hạ. Ông kiếm ra nhiều tiền, chứ chưa có cơ hội đi Tây bao giờ. Tiếng Pháp của cô Hai lúc này đã sõi lắm, nói lốp rốp, nghe đã con ráy. Ông bà Bảy tự hào về cô Hai quá xá quà xa.
Thỉnh thoảng bà Bảy cũng dọ ý con, coi con gái lớn có vừa mắt anh nào không thì ông bà xem xét gia cảnh rồi tính chuyện trăm năm cho hai đứa.
- Con nói má nghe, con có ưng thằng nào chưa? Nói để ba má biết mà liệu đường, chứ đừng có im im rồi mang cái bụng chửa, ba mày đánh chết nghe chưa?
- Dạ má, con còn nhỏ, chưa vội tính chuyện yêu đương, ba má đừng lo. Con biết nhà mình gia giáo, ba má lại có tên tuổi, con không dám làm điều gì tủi hổ gia phong.
- Ờ, bây biết vậy thì tốt. Chậc, nhìn con hai mươi má thấy má già. Thời gian trôi nhanh quá bây hen!
- Dạ, con luôn cầu Trời khấn Phật cho ba má sống đời với chị em tụi con.
- Tao với ba mày còn phải bồng thằng cháu nội đích tôn, rồi phải coi thằng Út yên bề gia thất. Còn lâu lắm, bây yên tâm đi.
- Ba má khỏe là con mừng.
Cái nhà dạo này coi bộ yên, tụi người làm cũng thẳng giấc mà ngủ tới sáng. Ông thầy quả thiệt cao tay ấn. Hết con trăng, chỗ bị phập phồng đã xẹp hẳn, không nhận ra dấu vết trước đây có điều kì lạ. Con chó được dẫn xuống nhà dưới để canh ăn trộm.
Ông thầy được mời lên lần nữa. Ổng tháo lá bùa xuống, trao cho ông Bảy quyển kinh thư, biểu treo vào ngay chỗ lá bùa trước kia, dù có thế nào cũng không được gỡ xuống.
Nhà ông Bảy yên, nhưng đâu nói là cái khu Đất Thánh Tây này đã yên. Sáng ông Bảy ra chợ sớm, ngồi quanh bàn cà phê, nhấm nháp ly bạc xỉu nóng với mấy ông già người Tàu. Đang xí xô xí xào, có thằng chạy xe lôi nó xáp vào tán chuyện. Cả bàn im lặng hóng hớt nghe.
- Mấy nị biết sao hông? Tối qua cái thằng bạn của ngộ, nó đạp xe về nhà vào ban đêm, đi ngang qua nhà của chú Bảy nè. Đâu chừng ngang được một khúc, ngay ngã tư đó, nó thấy người đàn bà ngoắc lại, kêu đạp về khúc Bắc Cổ Chiên. Mà cái đoạn đường đó mấy nị biết rồi, heo hút, tối thui nên thằng bạn của ngộ nó đâu có chịu chở. Cái người đó ra mặt âu sầu lắm, nói là lỡ đường mà nhà có con nhỏ, cần về gấp, nó chở đi rồi lấy mắc hơn chút bà đó cũng trả. Nó mậu lúi (hết tiền) cả ngày qua, nên nhắm mắt làm liều. Bả ngồi lên xe nó, nó cắm đầu cắm cổ đạp vì đường tối quá, mong mau tới nơi rồi quay về với vợ con. Ai dè đâu, chèn ơi, nó đạp đâu chừng mới được chút xíu, sao nó thấy xe nhẹ re hà. Nó lên tiếng hỏi: "Chị ơi, chút gần tới chị nói tui chạy chậm lại nghen, có gì mắc công quay lại lắm, đường tối tui hổng thấy đường rõ" - Có tiếng đáp: "Được rồi, anh cứ chạy đi, tới nơi tui nói mà". Nó lại cắm đầu đạp, mà sao cái xe nhẹ bâng. Nó ngoái đầu lại nhìn, nguyên cái bóng trắng nhìn nó nhe răng cười trắng nhởn rồi biến mất tiêu, xung quanh hông có ai hết ráo. Nó quăng luôn cái xe, lết lết đi không nổi, không biết lết làm sao mà té xuống cái mương, tới gần sáng có người đi ngang mới vớt lên. Nó sốt cả ngày nay, chưa biết sao đây. Thiệt là...
Ông Bảy nghe xong, lạnh hai bên xương sườn. Rõ ràng nắng chang chang thế mà người ông run lên từng chập. Chuyện gì chứ ba cái chuyện này, muốn không tin cũng không được.
Về nhà, thoáng thấy bóng ông, cô Hai bước lại thưa:
- Thưa ba, con xin phép về quê ngoại chơi vài ngày.
- Bây đi với ai đó?
- Dạ con đi một mình. Con nhớ ngoại nên muốn về thăm.
- Cũng được. Bây định đi mấy ngày?
- Dạ, chắc thứ hai con lên, để còn học chứ không nghỉ được.
- Ờ, để ba kêu thằng Tín nó đánh xe chở bây về Cái Nhum. Nói ba gởi lời thăm ngoại, dạo này ba bận quá không về thưa ngoại được. Lên chuẩn bị đồ rồi đi sớm, kẻo nắng rồi bệnh.
- Dạ, cám ơn ba.
Cô Hai lên lầu soạn đồ vào giỏ. Bà Bảy tranh thủ gởi ít tiền và bánh trái về cho má. Từ ngày bà lấy chồng, phụ chồng gầy dựng sự nghiệp, bà hiếm có thời gian về thăm.
Cô Hai đi rồi, ông lấy chiếc Vespa chạy lại nhà người chị gần khu miếu Bảy Bà. Chạy ngang qua cây đa trăm tuổi, rễ phụ buông xuống đặc kín như tấm màn, câu chuyện ma ban sáng hiện về rõ mồn một trong óc, ông nhấn ga chạy nhanh.
Cái cây đa này, nghe đồn có nhiều lắm. Có cái người bán hột vịt lộn, bán ế nên ráng, ai ngờ khi về trời đã khuya. Đi ngang qua góc này, chị ta sợ trong lòng nên vội bước cho nhanh. Qua cây đa chừng chục bước, thấy cái nhà đèn dầu le lói, có bóng người đứng trước sân đưa tay ngoắc ngoắc. Còn chừng chục trứng trong thúng, nên thấy người ngoắc, chị mừng rỡ đi nhanh tới. Người đưa tay ngoắc chị là người con gái, nhìn trẻ măng, ra dáng nhà giàu:
- Chị còn nhiêu trứng đó?
- Dạ, để tui đếm. Còn tám trứng đó cô, cô mua nhiêu?
- Thôi, tui lấy hết. Nhà nhiều người, tám trứng có khi không đủ.
- Mèn ơi, tui cũng vừa bán đây thôi hà. Thôi cô lấy đỡ nghen, nãy giờ tui rầu quá, trời mưa ít người mua.
- Tiền đây. Lần sau có đi ngang tôi sẽ mua giúp.
Chị ta cầm mấy tờ bạc, đếm lại kĩ càng rồi bỏ túi, rảo bước lẹ về nhà. Sáng hôm sau chị đi chợ sớm để mua trứng cho buổi tối nay. Ra tới chợ, cân xong mớ trứng, móc tiền trong túi ra thì bạc âm phủ lả tả rơi. Mặt xanh lè, tái mét, chị lắp bắp nói với bà bán trứng:
- Tui... tui gặp ma!
Bà bán trứng chưng hửng, định chửi cho một trận vì sáng sớm mở hàng đã nói năng linh tinh. Nhưng nhìn mặt chị ta không còn giọt máu, thấy thương tình kêu ngồi xuống, rót ly trà nóng rồi kêu kể đầu đuôi. Nghe xong bà bán trứng vỗ tay cái chát:
- Chết chị rồi. Cái khúc đó đâu có cái nhà nào. Lúc trước có cái ông gì ở đó, từ lúc con ổng chết ổng dọn nhà đi lâu lắm rồi chị ơi! Mai mốt đi bán đừng có về ngang khu đó nữa, coi chừng đó!
Chị này có vẻ bán tín bán nghi, tuy rụng rời tay chân vì xấp bạc âm phủ, nhưng chị nghĩ trong lòng chắc ông chồng lại lén tráo tiền để đi uống rượu. Chị về rủ vài thằng trong xóm quay lại chỗ hồi tối chị gặp cô gái. Ban ngày ban mặt thì ma nào dám nhát. Cả đám rầm rộ kéo đi, tới nơi, rõ ràng có cái nhà, nhưng tiêu điều lắm. Một thằng làm gan, lấy chân đạp cửa, nhà bỏ hoang nên cửa đạp mạnh bong bản lề bật vào trong. Cả nhóm hùng hổ bước vào, không gian lành lạnh và ngộp mùi ẩm mốc, tấm hình cô gái trên bàn thờ chăm chăm nhìn xuống làm cả đám rụng rời, mồ hôi tuôn ra như tắm. Chị ta ngất xỉu khi nhìn thấy rõ ràng trên bàn thờ tám trứng hột vịt nằm rành rành trong bịch nilon, còn có gói rau râm và bịch muối tiêu đặt kế bên. Nghe đâu chị bệnh mê man cả tuần mới tỉnh.
---
Cô Hai về quê đúng dịp trăng tròn. Mùa trăng tròn dưới quê vui lắm. Đêm đêm gái trai ra bờ đê, nhân đêm trăng sáng mà tát gàu sòng để tưới cho vụ lúa đang vào mùa ngậm sữa. Tiếng hò lay động cả mảnh trăng khuya.
Cô Hai ở thị xã đã sắc nước hương trời, thì về quê lại càng trở nên "giai nhân tuyệt sắc". Thật ra, so với thôn nữ thì kẻ tám lạng người nữa cân. Nhưng cô Hai con nhà giàu có, gấm vóc phủ kín người, mà ông cha ta có câu: "Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân" - sắc đẹp nhờ lụa, vàng, kim cương càng rạng ngời gấp bội phần.
Tuy sinh ra ở thành thị nhưng cô Hai thích cái lối sống mộc mạc ở quê. Cô thích theo mấy em nhỏ đi câu cá, hái trái cây. Nhất là trái bình bát, dầm với đường ăn chua chua ngọt ngọt, mát dịu cổ họng giữa trưa hè nắng gắt. Ngoại móm mém cười:
- Mẹ cha bây, ăn cao lương mỹ vị riết ngán hả con? Mấy cái trái dại này mà nhìn bây ăn ngon lành ghê chưa.
- Dạ, cái này ở trển ba má hông cho con ăn. Ba má nói nho táo đầy bàn sao không ăn mà đòi ăn thứ này. Con bị la hoài.
- Cái tụi... giàu có rồi quê gốc gác hà. Hồi má mày còn trẻ, nó lén tao chui lùm hái bình bát hoài chứ đâu. Thôi, ăn ít ít coi chừng đau bụng. Chiều nay ngoại nấu cho con nồi canh riêu cua, ăn với tép rang, chịu không?
- Thích quá ngoại ơi. Phải chi con không bận học, con về đây hoài với ngoại.
- Má mày trước kia cũng nói vậy. Nó có chồng, nó quên tao luôn.
- Dạ...
Cô Hai thích ngồi võng đong đưa dưới gốc dừa. Những cây dừa cao vút, lá xanh rợp, tỏa bóng mát cả khúc sông quê. Cô ngồi đó lắng nghe trong gió mùi thanh thanh của hoa lục bình, mùi hăng hắc của phù sa mỗi khi con nước lớn ròng. Cô yêu cái quê mùa nhưng chất phác của người dân nơi đây. Mùi khói lam chiều quyện vào ánh hoàng hôn gieo vào lòng cô gái mới lớn nỗi niềm khó tả.
Cô Hai về đây được mấy anh cưng lắm. Nhằm bữa trời mưa, cóc nhảy lên bờ để động đực, mấy anh cầm đèn soi cóc rồi nấu nồi cháo thiệt ngon để đãi. Không thì đào mấy củ khoai ngoài vườn, moi bùn ướt bọc thật kín rồi vùi xuống đất, đốt lửa lên trên. Lửa vừa tàn, bùn khô, nứt ra thì khoai vừa chín, nóng bỏng tay, vừa cầm vừa thảy qua thảy lại giữa hai tay cho nguội bớt rồi lột vỏ, ăn vừa thơm vừa ngọt vừa bùi. Những cái đó níu chân, làm cô Hai luyến tiếc mỗi khi xe về rước cô lên lại thị xã.
Sáng nay cùng ngoại ăn xong chén cơm, mấy chị trước nhà kêu ơi ới, rủ cô Hai đi câu cá. Đúng là sông quê, buông câu chừng năm mười phút, cần đã rung tưng tưng. Giật mạnh lên không cá lóc thì cá trê, hoặc cá rô, còn nào con nấy béo ú, nhìn thòm thèm. Mấy chị thích rủ cô Hai đi câu cá lắm, vì họ nói cô Hai nhẹ vía, mà lần nào có cô Hai đi chung cá cũng tranh nhau cắn câu, nặng trịch cái giỏ tre. Họ biết cô Hai quen ăn trắng mặc trơn, chưa từng dãi nắng dầm mưa, nên rủ đi theo thế nào cũng người xách nón người xách dù, có kẻ mang cả cái ghế tẹo teo cho cô ngồi đỡ mỏi. Da mặt cô Hai trắng hồng trong nắng sớm, mấy anh cứ kiếm cớ chài lưới để đậu ghe gần xung quanh, len lén ngắm nhìn. Ngồi đâu chừng nắng gần lên giữa ngọn cây, mấy chị đếm lại số cá rồi xếp cần câu chuẩn bị đi về, họ sợ cô Hai bị trúng nắng. Vừa xếp xong cần câu, chợt nghe khúc đầu sông nhao nhao. Tò mò, cô Hai cũng chạy theo để coi. Thì ra có người chết đuối, xác trôi dạt vào bờ. Người ta chen chân đông lắm, vừa coi vừa chỉ trỏ bàn tán. Người chết là cô gái còn trẻ, chắc vừa chết đây thôi nên xác còn khá nguyên vẹn. Theo lời xì xào xung quanh thì hình như nạn nhân ở xóm trên, chắc đi đêm trượt chân ngã xuống sông không ai hay. Ở xóm trên có cái đoạn đường vừa nhỏ lại vừa trơn, một bên ruộng lúa, một bên con sông, ban đêm thì tối hù hù. May mắn trượt chân vào ruộng lúa thì trặc tay trặc chân vài bữa hết. Còn rớt qua mé con sông, nếu bữa nào nước chảy xiết về chầu ông bà là chắc chắn. Cô Hai sợ nên đứng mé ngoài, không dám chen lấn vào coi. Ba má có dặn thấy mấy cái này là phải tránh cho xa, kẻo ôm họa vào người không hay. Mấy bà chị nhốn nháo chưa chịu đi về. Cô Hai lớ ngớ sao mà bị người ta chạy ngang, đụng mạnh vào người làm cô loạng choạng ngã vào đám đông. Hên là mấy người xung quanh đỡ kịp, chứ không dám ôm xác chết như chơi à. Đứng vững lại trên đôi guốc mộc, cô Hai hết hồn thấy mình đứng cạnh xác chết từ lúc nào. Hoảng vía, cô nhảy vội ra, chân cô vừa nhấc, những dòng máu tươi phụt trào qua khóe mắt, mũi và miệng của kẻ xấu số. Đám đông bàng hoàng, vội thắp nhang xá lia lịa. Họ đưa cô Hai một bó, kêu xá thành tâm, chứ điệu này coi bộ hổng hên.
Cô Hai tinh thần bấn loạn. Trước giờ bao bọc trong nhung gấm, có bao giờ cô chứng kiến mấy chuyện ghê rợn này đâu. Về nhà, ngoại hoảng hồn khi thấy mặt đứa cháu gái cưng không còn miếng máu. Gặn hỏi, nghe xong ngoại la ỏm tỏi:
- Đứa nào? Đứa nào dẫn con Hai đi coi mấy cái dơ bẩn đó? Đứa nào ra tao biểu.
Mấy bà chị líu ríu đứng xếp hàng.
- Ai, ai cho tụi bây dẫn nó đi coi? Tại sao không dẫn nó về nhà mà cho nó đứng xớ rớ đó giờ hồn vía đi mất rồi đây nè.
- Con xin lỗi ngoại. Tụi con đâu có biết.
- Bây đi rước ông Tư qua cho tao coi. Trả nó về mà nó như vầy, ba má nó giết tụi bây, con gái cưng của tụi nó đó.
Bà này kéo bà kia, chân thấp chân cao chèo xuồng rước ông Tư. Ông Tư qua, nghe xong chuyện, vội đến thắp nhang ở bàn thờ rồi đưa tay bấm độn. Mặt ông Tư tái dần.
- Anh Tư, nói tui nghe lẹ coi. Có chuyện gì với con cháu của tui đó?
- Chị Mười, theo tui bấm độn, cái việc người chết hộc máu ra như vậy là không tốt rồi chị Mười ơi. Con Hai đứng kế bên không sao, mà bước đi máu trào lênh láng coi chừng...
- Coi chừng gì? - ngoại run run.
- Coi chừng bị theo.
- Trời ơi!
Ngoại đứng ngay dậy, lọm cọm lại bàn thờ đốt bó nhang thật to, miệng lầm rầm khấn vái:
- Ông bà tổ tiên xin phù hộ cho cháu của con. Phù hộ cho nó bình an, không có tà ma quấy quá. Xin ông bà tổ tiên, cửu huyền thất tổ linh thiêng phù hộ.
Ông Tư sắc thang thuốc định thần cho cô Hai uống, nằm nghỉ tới xế chiều thì thần sắc trở lại bình thường. Ngoại lo lắng, sờ trán rồi bóp tay bóp chân:
- Con thấy sao rồi?
- Dạ không sao. Chắc tại hoảng quá nên con mệt. Ngoại đừng lo.
- Mai mày về với tía má, mà có chuyện gì chắc tụi nó giữ mày luôn không cho mày về với ngoại nữa.
- Dạ, không có đâu. Con thương ngoại lắm, khi nào rảnh con về với ngoại liền mà.
- Tía má bây mà biết về đây gặp mấy cái này, đời nào nó cho về nữa.
- Vậy con không nói, sao ba má biết. Ngoại đừng lo, con dấu kín lắm. Con không nói, ngoại không nói không ai biết đâu.
- Nhưng...
- Ngoại đừng nghĩ nhiều. Giữ sức khỏe mà sống lâu với tụi con. Để còn nấu canh riêu cua với tép rang cho con ăn nữa.
- Tổ cha bây. Ham ăn ghê chưa.
- Ngoại nấu ngon mà. Con thương ngoại nhất.
Nhìn cô Hai sởn sơ đi đứng, ngoại cũng bớt lo. Ngày mai cô Hai về lại thị xã, có chuyện gì chắc ngoại rầu lắm. Ở miệt này trời sụp tối sớm. 7giờ tối đã không nhìn thấy mặt người. Hai bà cháu vào mùng nằm. Cái sập gụ của ngoại đặt cạnh cửa sổ, không cần chiếu manh, nằm mát rượi cả lưng. Trăng 16 vẫn còn tròn, sáng vằng vặc cả góc sân lót gạch tàu đỏ au. Soi luôn cả góc sập nơi bà cháu nằm ngủ. Ngoại phe phẩy quạt mo cau, cô Hai lim dim rồi thiếp đi lúc nào không hay. Chừng quá nữa đêm, cô bỗng dưng giật mình tỉnh dậy, không hiểu vì sao. Nằm trằn trọc hoài không ngủ được, cô đưa mắt nhìn xung quanh. Cây đèn dầu hết tim đã tắt từ đầu hôm, căn nhà ba gian chìm trong bóng tối, chỉ có trăng bàng bạc ngoài sân. Cô Hai trở mình, ánh mắt vô tình đưa ngay bộ ván đặt mé sân. Tim cô đánh thót, rõ ràng bóng một người con gái ngồi xõa tóc ngay góc ngoài bộ ván. Bóng trắng hiện rõ gương mặt người con gái xấu số cô vừa thắp nhang ban sáng. Cổ họng cô rát bỏng, khô khốc, mồ hôi túa ướt đẫm lưng, tim đập loạn nhịp tưởng chừng rớt ra ngoài. Đêm nay gió lớn, những tàu lá dừa khua vào nhau xào xạc. Tàn cây trong vườn kẽo kẹt như tiếng ai đang cười nói giữa đêm thanh vắng. Cô Hai lay tay ngoại, ngoại ú ớ giật mình, bỗng dưng gió ngừng, không gian trở nên im ắng vô cùng, bóng trắng ngoài sân cũng biến mất, chỉ còn tiếng vạc lẻ loi gọi bầy giữa canh thâu.
Xe xuống rước cô Hai từ sớm. Coi bộ ông bà Bảy nhớ tiếng đàn tiếng hát của cô con gái cưng lắm rồi. Ông bà chuyển lời mời ngoại lên chơi, ngoại ngấm nghĩ chuyện hôm qua, rồi vào thu xếp vài bộ đồ theo xe lên cùng. Ngoại muốn ở với cô Hai vài ngày xem cô Hai có thật sự ổn, xong rồi ngoại mới về lại quê.
Ông bà Bảy thấy má lên thì mừng lắm, sai người làm nấu đủ món thịnh soạn. Ngoại sum họp với con cháu nên ra chiều vui vẻ, cười nói móm mém.
Đang ngồi ăn la-sét (tráng miệng), bà Bảy sực nhớ điều gì, chép miệng nói với ngoại:
- Má, má nhớ cái tủ má cho con lúc mới lấy chồng hông?
- Gì đó? Cái tủ đó tao nhờ thợ giỏi nhất dưới quê đóng đó nghen. Tặng bây coi vậy mà hai chục năm hơn rồi hen.
- Đúng, cái tủ đó đó má. Trước giờ con để dưới gác lửng không xài. Hôm trước anh Bảy có ít giấy tờ cần đem cất nên nhờ tụi người làm mang lên đặt trong phòng tụi con. Mà má biết sao hông? - mặt bà Bảy đăm chiêu.
- Gì? Bây nói gì nói lẹ, úp úp mở mở mệt tao ghê.
- Nói này má đừng la. Đem lên phòng mấy đêm nay, đêm nào cứ giữa khuya là nghe tiếng động trong cái tủ. Mới đầu con tưởng con nghe nhầm, nhưng hai đêm qua anh Bảy cũng thức, nghe rõ ràng má ơi!
- Bây có ngủ mớ không? Mà tiếng gì mới được?
- Nghe rõ ràng tiếng móng tay cào trong tủ đó má. Cào sột sột, giống như móng tay dài lắm. Rồi mấy cái hộp thiếc đặt trong tủ, nghe rổn rảng.
- Chết!
- Gì vậy má?
- Bây để cái tủ ở đâu? Tao lên tao coi. Đi lên với tao.
Cả nhà quính quáng theo chân bà ngoại lên phòng, chỗ đặt tủ. Cái tủ be bé, bề ngang chừng 1 thước, cao chừng thước rưỡi, sâu chừng bảy chục phân. Phía trên có ngăn kéo nhỏ, phía dưới là ngăn tủ rộng, có cánh cửa sập vào. Ngoại kêu ông Bảy gỡ cái ngăn kéo, lấy hết đồ bỏ ra ngoài, ngoài lần lần tay theo cái mép gỗ, đôi mắt mờ đục nheo khít cố nhìn cho rõ. Không thấy gì, ngoại bảo lấy hết đồ ở ngăn dưới, rồi kêu soi đèn pin, khom đầu vào trong. Xem xét lâu lắm, ngoại đưa tay cho bà Bảy đỡ ngồi lên giường rồi thở dài đánh thượt:
- Thằng Bảy, mày ngó cho tao coi, phải góc phía trên, ở trong, bên trái có dấu máu phải không?
Ông Bảy lẹ làng khom đầu vào nhìn.
- Dạ, đúng đó má. Dấu mờ mờ, má không nói con cũng không để ý.
- Cái thằng đóng tủ nó chơi bùa. Hèn chi... - ngoại chép miệng.
- Bùa? Má nói gì vậy má?
- Tao nhớ rõ lắm, nó xin tao thêm vài hào công đóng tủ, tao không còn tiền nên không cho, ai ngờ nó có trò này. Dân thợ mộc có nhiều nghề riêng lắm con à, nhiều khi nó chỉ cần cứa đứt ngón tay cái cho chảy máu rồi ịn lên món đồ, là cái món đồ đó bị ếm rồi, bây hiểu chưa?
- Sao giờ má?
- Cũng không sao. Xài tiếp cũng được. Không xài thì mang ra đốt.
Ông Bảy vội vội vàng vàng gom hết giấy tờ bỏ tủ quần áo rồi sai mấy thằng trong nhà đem xuống sau hè, xa xa nhà châm xăng đốt. Nói gì chứ, ông tin và sợ mấy chuyện này lắm. "Có kiêng có lành" - ông bà già xưa nói cấm có sai.
- Con tui là số một à nghen! Hổng có cái radô nào hát hay hơn cô Hai nhà này hết đó.
Tiếng lành đồn xa, kẻ mai người mối không ngơi tay. Năm nay cô Hai tròn trịa đôi mươi, ở quê tuổi này là tuổi yên bề gia thất, kiếm cháu chắt cho ông bà ẵm bồng. Ông Bảy làm ăn nhiều, tiếp xúc với cái hiện đại, nên ông thong thả cái việc gã chồng cho cô Hai Oanh. Con gái ông còn đó, tuổi xuân phơi phới, chạy đâu mà vội. Ông còn tính đường đâu cho cô Hai qua Pháp du học thời gian. Đi cho mở mang đầu óc, mở mặt mở mày với thiên hạ. Ông kiếm ra nhiều tiền, chứ chưa có cơ hội đi Tây bao giờ. Tiếng Pháp của cô Hai lúc này đã sõi lắm, nói lốp rốp, nghe đã con ráy. Ông bà Bảy tự hào về cô Hai quá xá quà xa.
Thỉnh thoảng bà Bảy cũng dọ ý con, coi con gái lớn có vừa mắt anh nào không thì ông bà xem xét gia cảnh rồi tính chuyện trăm năm cho hai đứa.
- Con nói má nghe, con có ưng thằng nào chưa? Nói để ba má biết mà liệu đường, chứ đừng có im im rồi mang cái bụng chửa, ba mày đánh chết nghe chưa?
- Dạ má, con còn nhỏ, chưa vội tính chuyện yêu đương, ba má đừng lo. Con biết nhà mình gia giáo, ba má lại có tên tuổi, con không dám làm điều gì tủi hổ gia phong.
- Ờ, bây biết vậy thì tốt. Chậc, nhìn con hai mươi má thấy má già. Thời gian trôi nhanh quá bây hen!
- Dạ, con luôn cầu Trời khấn Phật cho ba má sống đời với chị em tụi con.
- Tao với ba mày còn phải bồng thằng cháu nội đích tôn, rồi phải coi thằng Út yên bề gia thất. Còn lâu lắm, bây yên tâm đi.
- Ba má khỏe là con mừng.
Cái nhà dạo này coi bộ yên, tụi người làm cũng thẳng giấc mà ngủ tới sáng. Ông thầy quả thiệt cao tay ấn. Hết con trăng, chỗ bị phập phồng đã xẹp hẳn, không nhận ra dấu vết trước đây có điều kì lạ. Con chó được dẫn xuống nhà dưới để canh ăn trộm.
Ông thầy được mời lên lần nữa. Ổng tháo lá bùa xuống, trao cho ông Bảy quyển kinh thư, biểu treo vào ngay chỗ lá bùa trước kia, dù có thế nào cũng không được gỡ xuống.
Nhà ông Bảy yên, nhưng đâu nói là cái khu Đất Thánh Tây này đã yên. Sáng ông Bảy ra chợ sớm, ngồi quanh bàn cà phê, nhấm nháp ly bạc xỉu nóng với mấy ông già người Tàu. Đang xí xô xí xào, có thằng chạy xe lôi nó xáp vào tán chuyện. Cả bàn im lặng hóng hớt nghe.
- Mấy nị biết sao hông? Tối qua cái thằng bạn của ngộ, nó đạp xe về nhà vào ban đêm, đi ngang qua nhà của chú Bảy nè. Đâu chừng ngang được một khúc, ngay ngã tư đó, nó thấy người đàn bà ngoắc lại, kêu đạp về khúc Bắc Cổ Chiên. Mà cái đoạn đường đó mấy nị biết rồi, heo hút, tối thui nên thằng bạn của ngộ nó đâu có chịu chở. Cái người đó ra mặt âu sầu lắm, nói là lỡ đường mà nhà có con nhỏ, cần về gấp, nó chở đi rồi lấy mắc hơn chút bà đó cũng trả. Nó mậu lúi (hết tiền) cả ngày qua, nên nhắm mắt làm liều. Bả ngồi lên xe nó, nó cắm đầu cắm cổ đạp vì đường tối quá, mong mau tới nơi rồi quay về với vợ con. Ai dè đâu, chèn ơi, nó đạp đâu chừng mới được chút xíu, sao nó thấy xe nhẹ re hà. Nó lên tiếng hỏi: "Chị ơi, chút gần tới chị nói tui chạy chậm lại nghen, có gì mắc công quay lại lắm, đường tối tui hổng thấy đường rõ" - Có tiếng đáp: "Được rồi, anh cứ chạy đi, tới nơi tui nói mà". Nó lại cắm đầu đạp, mà sao cái xe nhẹ bâng. Nó ngoái đầu lại nhìn, nguyên cái bóng trắng nhìn nó nhe răng cười trắng nhởn rồi biến mất tiêu, xung quanh hông có ai hết ráo. Nó quăng luôn cái xe, lết lết đi không nổi, không biết lết làm sao mà té xuống cái mương, tới gần sáng có người đi ngang mới vớt lên. Nó sốt cả ngày nay, chưa biết sao đây. Thiệt là...
Ông Bảy nghe xong, lạnh hai bên xương sườn. Rõ ràng nắng chang chang thế mà người ông run lên từng chập. Chuyện gì chứ ba cái chuyện này, muốn không tin cũng không được.
Về nhà, thoáng thấy bóng ông, cô Hai bước lại thưa:
- Thưa ba, con xin phép về quê ngoại chơi vài ngày.
- Bây đi với ai đó?
- Dạ con đi một mình. Con nhớ ngoại nên muốn về thăm.
- Cũng được. Bây định đi mấy ngày?
- Dạ, chắc thứ hai con lên, để còn học chứ không nghỉ được.
- Ờ, để ba kêu thằng Tín nó đánh xe chở bây về Cái Nhum. Nói ba gởi lời thăm ngoại, dạo này ba bận quá không về thưa ngoại được. Lên chuẩn bị đồ rồi đi sớm, kẻo nắng rồi bệnh.
- Dạ, cám ơn ba.
Cô Hai lên lầu soạn đồ vào giỏ. Bà Bảy tranh thủ gởi ít tiền và bánh trái về cho má. Từ ngày bà lấy chồng, phụ chồng gầy dựng sự nghiệp, bà hiếm có thời gian về thăm.
Cô Hai đi rồi, ông lấy chiếc Vespa chạy lại nhà người chị gần khu miếu Bảy Bà. Chạy ngang qua cây đa trăm tuổi, rễ phụ buông xuống đặc kín như tấm màn, câu chuyện ma ban sáng hiện về rõ mồn một trong óc, ông nhấn ga chạy nhanh.
Cái cây đa này, nghe đồn có nhiều lắm. Có cái người bán hột vịt lộn, bán ế nên ráng, ai ngờ khi về trời đã khuya. Đi ngang qua góc này, chị ta sợ trong lòng nên vội bước cho nhanh. Qua cây đa chừng chục bước, thấy cái nhà đèn dầu le lói, có bóng người đứng trước sân đưa tay ngoắc ngoắc. Còn chừng chục trứng trong thúng, nên thấy người ngoắc, chị mừng rỡ đi nhanh tới. Người đưa tay ngoắc chị là người con gái, nhìn trẻ măng, ra dáng nhà giàu:
- Chị còn nhiêu trứng đó?
- Dạ, để tui đếm. Còn tám trứng đó cô, cô mua nhiêu?
- Thôi, tui lấy hết. Nhà nhiều người, tám trứng có khi không đủ.
- Mèn ơi, tui cũng vừa bán đây thôi hà. Thôi cô lấy đỡ nghen, nãy giờ tui rầu quá, trời mưa ít người mua.
- Tiền đây. Lần sau có đi ngang tôi sẽ mua giúp.
Chị ta cầm mấy tờ bạc, đếm lại kĩ càng rồi bỏ túi, rảo bước lẹ về nhà. Sáng hôm sau chị đi chợ sớm để mua trứng cho buổi tối nay. Ra tới chợ, cân xong mớ trứng, móc tiền trong túi ra thì bạc âm phủ lả tả rơi. Mặt xanh lè, tái mét, chị lắp bắp nói với bà bán trứng:
- Tui... tui gặp ma!
Bà bán trứng chưng hửng, định chửi cho một trận vì sáng sớm mở hàng đã nói năng linh tinh. Nhưng nhìn mặt chị ta không còn giọt máu, thấy thương tình kêu ngồi xuống, rót ly trà nóng rồi kêu kể đầu đuôi. Nghe xong bà bán trứng vỗ tay cái chát:
- Chết chị rồi. Cái khúc đó đâu có cái nhà nào. Lúc trước có cái ông gì ở đó, từ lúc con ổng chết ổng dọn nhà đi lâu lắm rồi chị ơi! Mai mốt đi bán đừng có về ngang khu đó nữa, coi chừng đó!
Chị này có vẻ bán tín bán nghi, tuy rụng rời tay chân vì xấp bạc âm phủ, nhưng chị nghĩ trong lòng chắc ông chồng lại lén tráo tiền để đi uống rượu. Chị về rủ vài thằng trong xóm quay lại chỗ hồi tối chị gặp cô gái. Ban ngày ban mặt thì ma nào dám nhát. Cả đám rầm rộ kéo đi, tới nơi, rõ ràng có cái nhà, nhưng tiêu điều lắm. Một thằng làm gan, lấy chân đạp cửa, nhà bỏ hoang nên cửa đạp mạnh bong bản lề bật vào trong. Cả nhóm hùng hổ bước vào, không gian lành lạnh và ngộp mùi ẩm mốc, tấm hình cô gái trên bàn thờ chăm chăm nhìn xuống làm cả đám rụng rời, mồ hôi tuôn ra như tắm. Chị ta ngất xỉu khi nhìn thấy rõ ràng trên bàn thờ tám trứng hột vịt nằm rành rành trong bịch nilon, còn có gói rau râm và bịch muối tiêu đặt kế bên. Nghe đâu chị bệnh mê man cả tuần mới tỉnh.
---
Cô Hai về quê đúng dịp trăng tròn. Mùa trăng tròn dưới quê vui lắm. Đêm đêm gái trai ra bờ đê, nhân đêm trăng sáng mà tát gàu sòng để tưới cho vụ lúa đang vào mùa ngậm sữa. Tiếng hò lay động cả mảnh trăng khuya.
Cô Hai ở thị xã đã sắc nước hương trời, thì về quê lại càng trở nên "giai nhân tuyệt sắc". Thật ra, so với thôn nữ thì kẻ tám lạng người nữa cân. Nhưng cô Hai con nhà giàu có, gấm vóc phủ kín người, mà ông cha ta có câu: "Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân" - sắc đẹp nhờ lụa, vàng, kim cương càng rạng ngời gấp bội phần.
Tuy sinh ra ở thành thị nhưng cô Hai thích cái lối sống mộc mạc ở quê. Cô thích theo mấy em nhỏ đi câu cá, hái trái cây. Nhất là trái bình bát, dầm với đường ăn chua chua ngọt ngọt, mát dịu cổ họng giữa trưa hè nắng gắt. Ngoại móm mém cười:
- Mẹ cha bây, ăn cao lương mỹ vị riết ngán hả con? Mấy cái trái dại này mà nhìn bây ăn ngon lành ghê chưa.
- Dạ, cái này ở trển ba má hông cho con ăn. Ba má nói nho táo đầy bàn sao không ăn mà đòi ăn thứ này. Con bị la hoài.
- Cái tụi... giàu có rồi quê gốc gác hà. Hồi má mày còn trẻ, nó lén tao chui lùm hái bình bát hoài chứ đâu. Thôi, ăn ít ít coi chừng đau bụng. Chiều nay ngoại nấu cho con nồi canh riêu cua, ăn với tép rang, chịu không?
- Thích quá ngoại ơi. Phải chi con không bận học, con về đây hoài với ngoại.
- Má mày trước kia cũng nói vậy. Nó có chồng, nó quên tao luôn.
- Dạ...
Cô Hai thích ngồi võng đong đưa dưới gốc dừa. Những cây dừa cao vút, lá xanh rợp, tỏa bóng mát cả khúc sông quê. Cô ngồi đó lắng nghe trong gió mùi thanh thanh của hoa lục bình, mùi hăng hắc của phù sa mỗi khi con nước lớn ròng. Cô yêu cái quê mùa nhưng chất phác của người dân nơi đây. Mùi khói lam chiều quyện vào ánh hoàng hôn gieo vào lòng cô gái mới lớn nỗi niềm khó tả.
Cô Hai về đây được mấy anh cưng lắm. Nhằm bữa trời mưa, cóc nhảy lên bờ để động đực, mấy anh cầm đèn soi cóc rồi nấu nồi cháo thiệt ngon để đãi. Không thì đào mấy củ khoai ngoài vườn, moi bùn ướt bọc thật kín rồi vùi xuống đất, đốt lửa lên trên. Lửa vừa tàn, bùn khô, nứt ra thì khoai vừa chín, nóng bỏng tay, vừa cầm vừa thảy qua thảy lại giữa hai tay cho nguội bớt rồi lột vỏ, ăn vừa thơm vừa ngọt vừa bùi. Những cái đó níu chân, làm cô Hai luyến tiếc mỗi khi xe về rước cô lên lại thị xã.
Sáng nay cùng ngoại ăn xong chén cơm, mấy chị trước nhà kêu ơi ới, rủ cô Hai đi câu cá. Đúng là sông quê, buông câu chừng năm mười phút, cần đã rung tưng tưng. Giật mạnh lên không cá lóc thì cá trê, hoặc cá rô, còn nào con nấy béo ú, nhìn thòm thèm. Mấy chị thích rủ cô Hai đi câu cá lắm, vì họ nói cô Hai nhẹ vía, mà lần nào có cô Hai đi chung cá cũng tranh nhau cắn câu, nặng trịch cái giỏ tre. Họ biết cô Hai quen ăn trắng mặc trơn, chưa từng dãi nắng dầm mưa, nên rủ đi theo thế nào cũng người xách nón người xách dù, có kẻ mang cả cái ghế tẹo teo cho cô ngồi đỡ mỏi. Da mặt cô Hai trắng hồng trong nắng sớm, mấy anh cứ kiếm cớ chài lưới để đậu ghe gần xung quanh, len lén ngắm nhìn. Ngồi đâu chừng nắng gần lên giữa ngọn cây, mấy chị đếm lại số cá rồi xếp cần câu chuẩn bị đi về, họ sợ cô Hai bị trúng nắng. Vừa xếp xong cần câu, chợt nghe khúc đầu sông nhao nhao. Tò mò, cô Hai cũng chạy theo để coi. Thì ra có người chết đuối, xác trôi dạt vào bờ. Người ta chen chân đông lắm, vừa coi vừa chỉ trỏ bàn tán. Người chết là cô gái còn trẻ, chắc vừa chết đây thôi nên xác còn khá nguyên vẹn. Theo lời xì xào xung quanh thì hình như nạn nhân ở xóm trên, chắc đi đêm trượt chân ngã xuống sông không ai hay. Ở xóm trên có cái đoạn đường vừa nhỏ lại vừa trơn, một bên ruộng lúa, một bên con sông, ban đêm thì tối hù hù. May mắn trượt chân vào ruộng lúa thì trặc tay trặc chân vài bữa hết. Còn rớt qua mé con sông, nếu bữa nào nước chảy xiết về chầu ông bà là chắc chắn. Cô Hai sợ nên đứng mé ngoài, không dám chen lấn vào coi. Ba má có dặn thấy mấy cái này là phải tránh cho xa, kẻo ôm họa vào người không hay. Mấy bà chị nhốn nháo chưa chịu đi về. Cô Hai lớ ngớ sao mà bị người ta chạy ngang, đụng mạnh vào người làm cô loạng choạng ngã vào đám đông. Hên là mấy người xung quanh đỡ kịp, chứ không dám ôm xác chết như chơi à. Đứng vững lại trên đôi guốc mộc, cô Hai hết hồn thấy mình đứng cạnh xác chết từ lúc nào. Hoảng vía, cô nhảy vội ra, chân cô vừa nhấc, những dòng máu tươi phụt trào qua khóe mắt, mũi và miệng của kẻ xấu số. Đám đông bàng hoàng, vội thắp nhang xá lia lịa. Họ đưa cô Hai một bó, kêu xá thành tâm, chứ điệu này coi bộ hổng hên.
Cô Hai tinh thần bấn loạn. Trước giờ bao bọc trong nhung gấm, có bao giờ cô chứng kiến mấy chuyện ghê rợn này đâu. Về nhà, ngoại hoảng hồn khi thấy mặt đứa cháu gái cưng không còn miếng máu. Gặn hỏi, nghe xong ngoại la ỏm tỏi:
- Đứa nào? Đứa nào dẫn con Hai đi coi mấy cái dơ bẩn đó? Đứa nào ra tao biểu.
Mấy bà chị líu ríu đứng xếp hàng.
- Ai, ai cho tụi bây dẫn nó đi coi? Tại sao không dẫn nó về nhà mà cho nó đứng xớ rớ đó giờ hồn vía đi mất rồi đây nè.
- Con xin lỗi ngoại. Tụi con đâu có biết.
- Bây đi rước ông Tư qua cho tao coi. Trả nó về mà nó như vầy, ba má nó giết tụi bây, con gái cưng của tụi nó đó.
Bà này kéo bà kia, chân thấp chân cao chèo xuồng rước ông Tư. Ông Tư qua, nghe xong chuyện, vội đến thắp nhang ở bàn thờ rồi đưa tay bấm độn. Mặt ông Tư tái dần.
- Anh Tư, nói tui nghe lẹ coi. Có chuyện gì với con cháu của tui đó?
- Chị Mười, theo tui bấm độn, cái việc người chết hộc máu ra như vậy là không tốt rồi chị Mười ơi. Con Hai đứng kế bên không sao, mà bước đi máu trào lênh láng coi chừng...
- Coi chừng gì? - ngoại run run.
- Coi chừng bị theo.
- Trời ơi!
Ngoại đứng ngay dậy, lọm cọm lại bàn thờ đốt bó nhang thật to, miệng lầm rầm khấn vái:
- Ông bà tổ tiên xin phù hộ cho cháu của con. Phù hộ cho nó bình an, không có tà ma quấy quá. Xin ông bà tổ tiên, cửu huyền thất tổ linh thiêng phù hộ.
Ông Tư sắc thang thuốc định thần cho cô Hai uống, nằm nghỉ tới xế chiều thì thần sắc trở lại bình thường. Ngoại lo lắng, sờ trán rồi bóp tay bóp chân:
- Con thấy sao rồi?
- Dạ không sao. Chắc tại hoảng quá nên con mệt. Ngoại đừng lo.
- Mai mày về với tía má, mà có chuyện gì chắc tụi nó giữ mày luôn không cho mày về với ngoại nữa.
- Dạ, không có đâu. Con thương ngoại lắm, khi nào rảnh con về với ngoại liền mà.
- Tía má bây mà biết về đây gặp mấy cái này, đời nào nó cho về nữa.
- Vậy con không nói, sao ba má biết. Ngoại đừng lo, con dấu kín lắm. Con không nói, ngoại không nói không ai biết đâu.
- Nhưng...
- Ngoại đừng nghĩ nhiều. Giữ sức khỏe mà sống lâu với tụi con. Để còn nấu canh riêu cua với tép rang cho con ăn nữa.
- Tổ cha bây. Ham ăn ghê chưa.
- Ngoại nấu ngon mà. Con thương ngoại nhất.
Nhìn cô Hai sởn sơ đi đứng, ngoại cũng bớt lo. Ngày mai cô Hai về lại thị xã, có chuyện gì chắc ngoại rầu lắm. Ở miệt này trời sụp tối sớm. 7giờ tối đã không nhìn thấy mặt người. Hai bà cháu vào mùng nằm. Cái sập gụ của ngoại đặt cạnh cửa sổ, không cần chiếu manh, nằm mát rượi cả lưng. Trăng 16 vẫn còn tròn, sáng vằng vặc cả góc sân lót gạch tàu đỏ au. Soi luôn cả góc sập nơi bà cháu nằm ngủ. Ngoại phe phẩy quạt mo cau, cô Hai lim dim rồi thiếp đi lúc nào không hay. Chừng quá nữa đêm, cô bỗng dưng giật mình tỉnh dậy, không hiểu vì sao. Nằm trằn trọc hoài không ngủ được, cô đưa mắt nhìn xung quanh. Cây đèn dầu hết tim đã tắt từ đầu hôm, căn nhà ba gian chìm trong bóng tối, chỉ có trăng bàng bạc ngoài sân. Cô Hai trở mình, ánh mắt vô tình đưa ngay bộ ván đặt mé sân. Tim cô đánh thót, rõ ràng bóng một người con gái ngồi xõa tóc ngay góc ngoài bộ ván. Bóng trắng hiện rõ gương mặt người con gái xấu số cô vừa thắp nhang ban sáng. Cổ họng cô rát bỏng, khô khốc, mồ hôi túa ướt đẫm lưng, tim đập loạn nhịp tưởng chừng rớt ra ngoài. Đêm nay gió lớn, những tàu lá dừa khua vào nhau xào xạc. Tàn cây trong vườn kẽo kẹt như tiếng ai đang cười nói giữa đêm thanh vắng. Cô Hai lay tay ngoại, ngoại ú ớ giật mình, bỗng dưng gió ngừng, không gian trở nên im ắng vô cùng, bóng trắng ngoài sân cũng biến mất, chỉ còn tiếng vạc lẻ loi gọi bầy giữa canh thâu.
Xe xuống rước cô Hai từ sớm. Coi bộ ông bà Bảy nhớ tiếng đàn tiếng hát của cô con gái cưng lắm rồi. Ông bà chuyển lời mời ngoại lên chơi, ngoại ngấm nghĩ chuyện hôm qua, rồi vào thu xếp vài bộ đồ theo xe lên cùng. Ngoại muốn ở với cô Hai vài ngày xem cô Hai có thật sự ổn, xong rồi ngoại mới về lại quê.
Ông bà Bảy thấy má lên thì mừng lắm, sai người làm nấu đủ món thịnh soạn. Ngoại sum họp với con cháu nên ra chiều vui vẻ, cười nói móm mém.
Đang ngồi ăn la-sét (tráng miệng), bà Bảy sực nhớ điều gì, chép miệng nói với ngoại:
- Má, má nhớ cái tủ má cho con lúc mới lấy chồng hông?
- Gì đó? Cái tủ đó tao nhờ thợ giỏi nhất dưới quê đóng đó nghen. Tặng bây coi vậy mà hai chục năm hơn rồi hen.
- Đúng, cái tủ đó đó má. Trước giờ con để dưới gác lửng không xài. Hôm trước anh Bảy có ít giấy tờ cần đem cất nên nhờ tụi người làm mang lên đặt trong phòng tụi con. Mà má biết sao hông? - mặt bà Bảy đăm chiêu.
- Gì? Bây nói gì nói lẹ, úp úp mở mở mệt tao ghê.
- Nói này má đừng la. Đem lên phòng mấy đêm nay, đêm nào cứ giữa khuya là nghe tiếng động trong cái tủ. Mới đầu con tưởng con nghe nhầm, nhưng hai đêm qua anh Bảy cũng thức, nghe rõ ràng má ơi!
- Bây có ngủ mớ không? Mà tiếng gì mới được?
- Nghe rõ ràng tiếng móng tay cào trong tủ đó má. Cào sột sột, giống như móng tay dài lắm. Rồi mấy cái hộp thiếc đặt trong tủ, nghe rổn rảng.
- Chết!
- Gì vậy má?
- Bây để cái tủ ở đâu? Tao lên tao coi. Đi lên với tao.
Cả nhà quính quáng theo chân bà ngoại lên phòng, chỗ đặt tủ. Cái tủ be bé, bề ngang chừng 1 thước, cao chừng thước rưỡi, sâu chừng bảy chục phân. Phía trên có ngăn kéo nhỏ, phía dưới là ngăn tủ rộng, có cánh cửa sập vào. Ngoại kêu ông Bảy gỡ cái ngăn kéo, lấy hết đồ bỏ ra ngoài, ngoài lần lần tay theo cái mép gỗ, đôi mắt mờ đục nheo khít cố nhìn cho rõ. Không thấy gì, ngoại bảo lấy hết đồ ở ngăn dưới, rồi kêu soi đèn pin, khom đầu vào trong. Xem xét lâu lắm, ngoại đưa tay cho bà Bảy đỡ ngồi lên giường rồi thở dài đánh thượt:
- Thằng Bảy, mày ngó cho tao coi, phải góc phía trên, ở trong, bên trái có dấu máu phải không?
Ông Bảy lẹ làng khom đầu vào nhìn.
- Dạ, đúng đó má. Dấu mờ mờ, má không nói con cũng không để ý.
- Cái thằng đóng tủ nó chơi bùa. Hèn chi... - ngoại chép miệng.
- Bùa? Má nói gì vậy má?
- Tao nhớ rõ lắm, nó xin tao thêm vài hào công đóng tủ, tao không còn tiền nên không cho, ai ngờ nó có trò này. Dân thợ mộc có nhiều nghề riêng lắm con à, nhiều khi nó chỉ cần cứa đứt ngón tay cái cho chảy máu rồi ịn lên món đồ, là cái món đồ đó bị ếm rồi, bây hiểu chưa?
- Sao giờ má?
- Cũng không sao. Xài tiếp cũng được. Không xài thì mang ra đốt.
Ông Bảy vội vội vàng vàng gom hết giấy tờ bỏ tủ quần áo rồi sai mấy thằng trong nhà đem xuống sau hè, xa xa nhà châm xăng đốt. Nói gì chứ, ông tin và sợ mấy chuyện này lắm. "Có kiêng có lành" - ông bà già xưa nói cấm có sai.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét